Một thời “Nước mắm đồng tư”
Bút ký của Tô Thành Tuyên
Gần Tết Bính Ngọ, anh bạn thời quân ngũ của tôi là Nguyễn Mạnh Hùng, nay về quê “vui thú điền viên”, ở xã Giao Ninh, tỉnh Ninh Bình (trước là xã Giao Phong, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định), gửi tặng tôi một chai nước mắm không tem nhãn, với lời giới thiệu “Chính hiệu nước mắm đồng tư một thời đó, quê ạ!”

Nhận chai nước mắm từ quê biển, tự nhiên tôi mất hết cảm giác về trọng lượng, nặng nhẹ thật khó phân biệt! Chai nước mắm, kể cả vỏ thủy tinh chưa đến một kg, mà sao tay tôi như trĩu nặng? Biết bao hoài niệm từ quá khứ ùa về, khi anh bạn gợi lại cái “thương hiệu” thân quý một thời – “Nước mắm đồng tư”.
Không biết bao người thuộc thế hệ 5X, 6X của thế kỷ trước còn nhớ về “Nước mắm đồng tư”? Nhưng chí ít là có anh bạn quê biển và tôi thì không thể nào quên về loại nước mắm đó, về một thời khốn khó đã xa…
Ngay tối đó, tôi thử luôn nước mắm đồng tư thời nay. Vừa rót nước mắm ra chiếc bát nhỏ, tôi nhận ra ngay cái màu xanh nhờ nhờ, sóng sánh như nước chè tươi nấu đặc, mùi thơm quyến rũ xưa kia nay sực lại trong hiện tại, còn khi nếm thì vẫn như ngày xưa người quê tôi ca tụng về loại nước mắm này “chót lưỡi, đầu môi”.
Thời bao cấp, dường như thứ gì bán ở cửa hàng mậu dịch xã đều là phân phối, theo tem phiếu. Với nước mắm, chỉ có duy nhất hai loại, là “Nước mắm đồng tư” (thương hiệu này gọi theo giá bán, là 1 đồng 4 hào một lít; còn “Nước mắm một đồng” thì giá 1 đồng một lít). Giá hai loại nước mắm đó không hề thay đổi suốt thời kỳ bao cấp.
“Nước mắm một đồng” thì cửa hàng mậu dịch có bán quanh năm. Với “Nước mắm đồng tư” thì duy nhất trong năm các hộ được mua một lần vào dịp Tết Nguyên đán. Bởi vậy, quê tôi (thời ấy là xã Nam Chấn, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định; nay là phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình) còn gọi là “nước mắm Tết”. Nước mắm loại này được phân phối theo khẩu, hộ nào có 6 khẩu trở lên được mua một lít, còn hộ nào từ 5 khẩu trở xuống thì chỉ được mua nửa lít. Nhà nào khấm khá hơn muốn mua thêm cũng không thể tìm đâu ra. Cứ gần Tết là người lớn ngong ngóng chờ mua “Nước mắm đồng tư”, vì đó là gia vị, gia giảm “ chiến lược” để ăn Tết.
Đầu tháng 10/2022, Câu lạc bộ Báo chí Thành Nam tại Hà Nội về thăm quê nhà Nam Định, tôi không bỏ lỡ đến làng Sa Châu, xã Giao Châu, huyện Giao Thủy (nay thuộc xã Giao Hưng, tỉnh Ninh Bình) để tìm hiểu về cách làm nước mắm, một trong những nơi làm nên thương hiệu “Nước mắm đồng tư” một thời. Theo những chủ lò mắm ở đây, việc làm nước mắm luôn tuân thủ nghiêm ngặt phương cách truyền thống và vệ sinh an toàn thực phẩm. Cá làm mắm chủ yếu là cá cơm lưng xanh, bụng trắng hồng. Tàu cá cập bến là người làm mắm thu mua ngay, khi cá còn tươi rói. Sau khi làm sạch, cá được đưa vào những ang, những chum sành già đét, cùng với muối sạch tinh khiết, đã được “hả hơi biển”, để ướp chượp, rồi phơi nắng, ngậm sương một năm trở lên, mới chắt lọc ra nước mắm thành phẩm, tuyệt nhiên không có can thiệp của bất cứ sự điều vị nào.
Thời ấy, can nhựa thật hiếm. Cửa hàng mậu dịch xã nhập nước mắm về toàn đựng trong chum sành. Người đi mua nước mắm cũng chủ yếu mang hũ sành, lọ sành, nhà nào có chai thủy tinh thì được coi là lịch sự. Khi đong nước mắm cho khách, cô Lụa, sau là cô Nhụ, cô Hợi đều rất cẩn thận, không thiếu, không quá một rem. Vậy mà, các gia đình có người đi bộ đội, ở chiến trường như bố tôi, thì các cô bao giờ cũng kín đáo đong tươi hơn một chút.
Suốt những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, bố tôi cứ biền biệt ở chiến trường Quảng Trị, sau lại triền miên ở mặt trận Vị Xuyên, bảo vệ Tổ quốc. Ở nhà có 5 người, nên mỗi Tết nhà tôi được mua nửa lít “Nước mắm đồng tư”. Dịp Tết, nhà “ăn sang” thì dùng nước mắm đó làm giò, làm mọc và xào nấu các món ăn. Nhà tôi thì mẹ phải chia nửa lít nước mắm ấy làm 3 phần. Một phần để nấu thịt đông và chấm thịt luộc, còn xào nấu các món thì chỉ dùng “Nước mắm một đồng”. 2/3 “Nước mắm đồng tư” còn lại, mẹ tôi cất kỹ để “đưa cơm, đưa cháo” mỗi khi bà nội và anh em chúng tôi đau ốm.
Nhớ năm tôi học lớp 8, hôm chủ nhật vào cuối năm, tôi cùng mẹ đi đập đất ải ở đồng Bõ, xa lắm, để trồng khoai lang lấy lá chống đói tháng 3. Gần tối mà công việc còn nhiều, mẹ tôi động viên: “Mẹ con mình cố lên, để sáng mai thợ cày ập luống. Cơm tối nay mẹ sẽ bồi dưỡng cho mấy thìa “Nước mắm đồng tư” để chấm tóp mỡ”. Chao ôi, đang đói, đang mệt mà nghe mẹ “trao thưởng” vậy, làm tôi quên hết đói, mệt, mà vung vồ thoăn thoắt, chắc nịch như trai tráng. Trời tối mịt, hai mẹ con mới xong việc. Tối đó, nhà tôi ăn cơm muộn hơn thường ngày, càng làm cho tôi không bao giờ quên bữa tối ngon nhất đời mình!
Tuần trước, tôi về quê dự hội làng, có buổi tối ngồi hàn huyên với ông bác họ, là Tô Đặng Toàn (gọi ông bằng bác là theo vai vế trong họ, chứ ông chỉ hơn tôi đúng một tuổi). Gợi lại chuyện nước mắm, ông bác ngậm ngùi: “Bác không thể quên chuyện về nước mắm ở hai thời kỳ của đời mình. Thuở nhỏ, là vụ làm “Nước mắm đồng tư giả” của hai bác cháu mình; thời quân ngũ là “Nước chấm đại dương” giữ chốt biên cương…”
“Nước chấm đại dương”, thì người lính bảo vệ biên giới phía Bắc ai mà chẳng được thưởng thức, ai mà quên được. Còn chuyện làm “Nước mắm đồng tư giả”, chắc chỉ có ở bác cháu tôi.
Tết Quý Sửu – 1973, khi ấy tôi 11 tuổi, bác Toàn 12 tuổi. Sáng ngày ông Táo lên trời, bác cháu tôi hào hứng rủ nhau đi mua nước mắm Tết. Nhà 10 người, nên bác Toàn mang cái chai xanh đít lõm, dung tích đúng 1 lít (chai rượu vang của Pháp). Còn tôi mang đi cái chai thủy tinh nửa lít. Từ làng tôi (lúc đó là làng Dứa) lên cửa hàng mậu dịch xã khoảng gần một km, chúng tôi đi rất sớm, nên mua được nước mắm Tết ngay. Hai bác cháu phấn chấn ra về. Được nửa đường, về đến cầu đá ông Thuấn, vì thèm quá, ông bác nhỏ mới thò ngón tay trỏ vào chai nước mắm rồi đưa lên miệng mút chùn chụt. Đang ngất ngây, ngất ngây, ông bác vấp ngay vào một mô đất, làm chai nước mắm rơi xuống vỡ tan, nước mắm chảy lênh láng. Ông bác hốt hoảng, mặt tái đi, rồi đứng như pho tượng, phần vì tiếc, nhưng lo nhất là sẽ phải hứng chịu trận đòn chí tử trưa nay của bố!
Tâm trạng tôi cũng chẳng khác, thương và lo cho bác, vì đã nhiều lần tôi chứng kiến bố bác dữ đòn lắm. Có thể năm nay nhà bác sẽ mất Tết, chỉ vì chai nước mắm?
Để tránh đòn cho bác, tôi nghĩ kế:
- Về nước mắm cháu sẽ có cách. Quan trọng nhất bây giờ phải kiếm được cái chai xanh đít lõm. Cả xóm cháu chỉ thấy nhà bác có một chiếc thì đã vỡ. Nhà ông Mạo thì có hai chiếc, cháu thấy ông ấy hay đem ra lau chùi. Bây giờ phải về ngay, sang nói khó, để ông Mạo bán cho một chiếc…
Hai bác cháu đi như chạy về nhà và sang ngay nhà ông Mạo thưa chuyện. Mới đầu ông ngần ngại, nhưng cũng quá biết sự ác đòn của bố bác Toàn, nên ông đã đồng ý “chuyển giao” cho chúng tôi chiếc chai xanh đít lõm. Cầm chiếc chai, ông bác ngập ngừng “Tết có tiền mừng tuổi, cháu sẽ trả ông…”. Nghe vậy, ông Mạo cười hồn hậu, đầy sự cảm thông: “Thôi, ông mừng tuổi cháu trước cái chai. Từ nay làm việc gì cũng phải cẩn thận nhé”
Xong việc quan trọng nhất, bác Toàn đem chai sang nhà tôi xúc rửa. Còn tôi cầm chiếc cặp lồng bộ đội (bố gửi về từ mặt trận Quảng Trị), đi thật nhanh lên cửa hàng mậu dịch xã. Đúng lúc vắng khách, tôi thực hiện luôn lời nói dối với cô Tô Thị Lụa: “Cô ơi, chai nước mắm cháu vừa mua, nhưng đi đường cháu vấp ngã, làm vỡ chai, đổ hết mắm rồi ạ. Cô chiếu cố bán cho cháu nửa lít nữa, kẻo năm nay nhà cháu không có nước mắm ngon ăn Tết…”
Cô Lụa cau mặt, trách: “Cả năm mới có nửa lít nước mắm ngon ăn Tết, vậy mà hậu đậu làm đổ hết. Không khéo mẹ cho ăn đòn, trước khi ăn tết… Thôi đưa cặp lồng đây, cửa hàng cho nhà cháu nửa lít nữa, ưu tiên gia đình bộ đội đấy nhé. Bây giờ về đi chậm thôi, cẩn thận vào”
Về tới nhà, tôi thực hiện luôn “công nghệ” chế một lít xì dầu thành bốn lít, mà tôi đã học lỏm được của mẹ. Tôi lấy đường đỏ chưng lên làm nước hàng, lấy hơn nửa lít nước đun sôi có pha mấy thìa muối và một thìa mì chính, rồi hòa đều một lít “Nước mắm đồng tư” nguyên chất vào, thành một lít rưỡi “Nước mắm đồng tư nhái”. Nếm thử, thấy nước mắm nhái hơi mặn, tôi cho thêm mì chính.
Tạm yên tâm, chúng tôi rót nước mắm vào hai chai (chai xanh đít lõm một lít mà ông Mạo “mừng tuổi” và chai nửa lít nhà tôi), thật vừa vặn. Bác Toàn nâng niu chai mắm đem về nhà. Tôi thì ra ngõ ngóng chờ bố bác Toàn từ lều vó về ăn cơm trưa. Khi ông về đến đầu xóm, tôi lủi nhanh sang sau nhà ông, bí mật, nín thở nhòm vào nhà qua cửa sổ chỗ kín, chỗ hở. Đúng như phán đoán của tôi, vào trong nhà là ông giục ngay bác Toàn: “Mày đưa chai “Nước mắm đồng tư” để tao thử xem năm nay thế nào”
Bác Toàn đưa chai nước mắm lên bàn, ông lấy ngay đầu đũa chấm vào chai nước mắm, rồi đưa lên miệng chép chép liên hồi. Thẩm định xong, ông hài lòng “Nước mắm đồng tư” năm nay cũng khá đấy, nhưng hơi nhạt, mai cho thêm nước muối, thành một lít rưỡi”. Nghe vậy, tôi thở phào nhẹ nhõm, còn bác Toàn chắc hẳn thời khắc ấy như trút được một gánh nặng!
Mẹ tôi thì trưa 30 tết mới lấy “Nước mắm đồng tư” để nấu thịt đông. Nếm thử, bà nhận xét “Nước mắm đồng tư năm nay không thơm bằng năm ngoái”.
Mẹ nhận xét vậy, tôi không giấu nữa, liền nói rõ sự tình.
Nghe tôi thú tội, mẹ chẳng hề giận, mà tỏ ra rất xúc động và thật hài lòng. Mẹ tôi tâm tính là thế, luôn bao dung và thương người lắm! Học mẹ, chai “Nước mắm đồng tư” thời nay mà anh bạn tặng, tôi đã dành lại 2/3 để Tết này mẹ tôi và bác họ Tô Đặng Toàn cùng được thưởng thức lại vị xưa, Tết cũ.
Bây giờ, có muôn loại nước mắm đựng chai, cùng những tem nhãn mời gọi hấp dẫn, nhưng tôi không bao giờ quên được hương vị của “Nước mắm đồng tư” thời xưa ấy. Với tôi, chai nước mắm anh bạn tặng không tem nhãn “lộ thiên”, nhưng thẳm sâu một tem nhãn “chìm”. Với tôi, nước mắm ấy không chỉ có vị xưa, màu cũ, mà có thêm bao độ đạm, mùi thơm của tình đồng đội, quê hương và gia vị từ những kỷ niệm rưng rưng, không thể nào quên.
